Câu 1: Trình bày các thuộc tính, tính chất hai mặt

Câu 1: Trình bày các thuộc tính, tính chất hai mặt và số lượng hàng hóa ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên ?           - Các thuộc tính của hàng hoá: + Giá trị sử dụng hàng hoá: Là công cụ của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người. Nó gắn liền với các thuộc tính lý học, hoá học, sinh học của vật với tư cách là hàng hoá. Xã hội càng tiến bộ, khoa học kỹ thuật, phân công lao động xã hội và nói chung. lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá tr

Hình Ảnh Đẹp's Blog

Thông tin cá nhân

Hình Ảnh Đẹp
Họ tên: Ngọc Trân
Sinh nhật: 9 Tháng 9 - 2009
Nơi ở: Cà Mau
Trạng thái: User is offline (Vắng mặt)
Thêm vào nhóm bạn bè
Gửi tin nhắn
Hãy để tất cả con em chúng ta lên tiếng!


Xem theo danh mục
Xem theo danh mục:
     


Tìm kiếm:
     

 
Câu 1: Trình bày các thuộc tính, tính chất hai mặt và số lượng hàng hóa ? Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên ?
          - Các thuộc tính của hàng hoá:
+ Giá trị sử dụng hàng hoá:
Là công cụ của hàng hoá để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.
Nó gắn liền với các thuộc tính lý học, hoá học, sinh học của vật với tư cách là hàng hoá.
Xã hội càng tiến bộ, khoa học kỹ thuật, phân công lao động xã hội và nói chung. lực lượng sản xuất ngày càng phát triển thì số lượng giá trị sử dụng ngày càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
Giá trị sử dụng cho xã hội, không phải giành cho người sản xuất ra nó mà giành cho người mua nó. Do Vậy: Giá trị sử dụng giành cho hàng hoá tuỳ thuộc vào sự đánh giá của người mua, tuỳ theo yêu cầu, thị hiếu của họ.
Giá trị sử dụng của hàng hoá là một phạm trù vĩnh viễn và là vật mang giá trị trao đổi.
+ Giá trị của hàng hoá:
          Muốn hiểu được giá trị hàng hoá càn tìm hiểu giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi là một quan hệ về số lượng, là khả năng trao đổi của hàng hoá thể hiện ở tỷ lệ, theo đó một loại hàng hoá này được trao đổi với một loại hàng hoá khác.
Ví dụ:1m vãi = 5 kg thóc, sở dĩ vãi và thóc là hai loại hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có thể trao đổi với nhau được theo một tỷ lệ nhất định vì vãi và thóc đều là sản phẩm của lao động, chúng đều có cơ sở chung là hao phí lao động của con người. Sự hao phí lao động để sản xuất ra hàng hoá được gọi là giá trị.
Giá trị của hàng hoá: Là lao động xã hội của con người sản xuất kết tinh trong hàng hoá. Còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị. Giá trị phản ảnh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất hàng hoá. Cũng chính gì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử , nó tồn tại trong kinh tế hàng hoá.
+ Mối quan hệ giữ hai thuộc tính: Hai thuộc tính hàng hoá  có mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu thuẩn với nhau.
. Mặt thống nhất thể hiện hai chổ: Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hoá. Nghĩa là một vật phải có đủ hai thuộc tính này mới là hàng hoá. Nếu thiếu một trong hai thuộc tính đó vật phẩm sẽ không phải là hàng hoá. Chẳng hạn, một vật có ích (tức có giá trị) nhưng không do lao động tạo ra (tức không có kết tinh lao động) Như: Không khí, ánh sáng, tự nhiên, ... sẽ không phải là hàng hoá.
. Mâu thuẩn giữa hai thuộc tính của hàng hoá thể hiện ở chổ:
Thư nhất: với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đông nhất về chất. Nhưng ngược lại, với tư cách là giá trị thì hàng hoá lại đồng nhất về chất, đều là: "kết tinh đồng nhất của lao động mà thôi", tức đều là sự kết tinh của lao động đã dược vật hoá.
Thứ hai: tuy giá trị sử dụng và giá trị cùng tồn tại trong một hàng hoá nhưng quá trình thực hiện chúng lại tách rời nhau cả về không gian và thời gian. Giá trị được thực hiejn trước - trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị sử dụng được thực hiện sau - Trong lĩnh vực tiêu dùng. Do đó, nếu giá trị của hàng hoá không được thực hiện được (tức là không bán được) thì quá trình sử dụng nó cũng không được thực hiện. Nó thể hiện rõ nhất khi bùng nổ khủng khoãng "sản xuất thừa".
- Tính chất hai mặt lao động sản xuất hàng hoá: Sở dĩ có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng là do tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định. Tính chất hai mặt đó là: Lao dộng cụ thể và lao động trừu tượng.
+ Lao động cụ thể: Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.
Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ may, thợ dệt, thợ cơ khí, ... mỗi lao động cụ thể có một mục đích, đối tượng, phương pháp lao động, tư liệu lao động và kết quả sản xuất riêng. Mỗi lao động  cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng của hàng hoá.
+ Lao động trừu tượng: Là lao đông của người sản xuất hàng hoá đã gạt bỏ hình thức biểu hiện cụ thể của nó để quy về cái không đồng nhất. Đó là sự tiêu phí sức lao động, tiêu hao sức cơ bắp, thần kinh của con người khi sản xuất hàng hoá. Nếu lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng thì lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hoá, cần chú ý: sự tiêu phí sức lực của người sản xuất hàng hoá mới là lao động trừu tượng.
-  Lượng giá trị của hàng hoá:
+ Thời gian lao động xã hội cần thiết:
Lượng giá trị của hàng hoá là lượng lao động háo phí để sản xuất hàng hoá và lượng lao động hao phí được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó.
Thời gian lao động xã hội cần thiết: Là một thời gian lao động đòi hỏi đề sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, trong điều kiện sản xuất bình thường cảu xã hội, với một trình độ thành thạo trung bình và cường độ lao động trung bình trong xã hội đó.
+ Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hoá:
Năng sức lao động là năng lực sản xuất của người lao động được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong 1 đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm.
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương la động trong 1 đơn vịo thời gian, nó cho thấy mức nặng nhọc hay căn thẳn của người lao động, nếu tăng cường độ lao động như kéo dài td lao động làm cho số lượng hàng hoá tăng lên nhưng giá trị của từng hàng hoá không đổi.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu trên:
- Đem lại cho học thuyết lý luận giá trị lao động một cở sở khoa học thật sự. Các nhà kinh tế học trước Mác cho rằng Lao động tạo ra giá trị, nhưng không biết mặt lao động nào tạo ra giá trị. C. Mác phát hiện ra mặt lao động trừu tượng của người sản xuất hàng loạt ra giá trị hàng hoá.
- Nhờ phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá, C.Mac đã giải thích được nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư, phân tích được bản chất bất biến và tư barnn khả biến,... Do đó, đem lại cơ sở khoa học vũng chắc học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết tích luỹ, học thuyết tái sản xuất, ...
- Do lao động tạo ra giá trọ hàng hoá nên trong nền sản xuất hàng hoá của Việt Nam hiện  nay cũng phải chú ý đến lao động trừu tượng
 
 
 
 

 

> Trả lời nhanh
Bình luận của bạn sẽ được đăng sau khi chủ blog kiểm duyệt và chấp nhận
Nhập vào tên của bạn:
Nhập mã số xác nhận (bắt buộc):
» Hiển thị cửa sổ mặt cười       » Download bộ gõ tiếng Việt Unikey
 Bạn có muốn chuyển các ký hiệu như :) :( :D ...thành mặt cười trong bài viết này?
 Bạn có muốn chèn thêm chữ ký vào bài viết này ?
 


 
Tin nhanh

CHBTNSB
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31

Lượt xem thứ:





Mạng xã hội của người Việt Nam.
VnVista I-Shine © 2005 - 2014 VnVista.com