Câu 9: Trình bày tính tất yếu và nội dung của CNH

Câu 9: Trình bày tính tất yếu và nội dung của CNH, HĐH nền kinh tế nước ta hiện nay. * Tính tất yếu của CNH, HĐH CNTB đã mất hàng trăm năm thực hiện CNH TB CN để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNTB. Ngày nay, các nước đi lên CNXH dù điểm xuất phát từ trình độ nào (TBCN hay tiền TBCN) đều phải thực hiện CNH, HĐH, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho CNXH. - Đối với các nước quá độ từ CNTB lên CNXH, dù đã có đại công nghiệp; có cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNTB song đó mới chỉ là tiền đề vật chất của CNXH. Muốn có cơ sở vật ch

Hình Ảnh Đẹp's Blog

Thông tin cá nhân

Hình Ảnh Đẹp
Họ tên: Ngọc Trân
Sinh nhật: 9 Tháng 9 - 2009
Nơi ở: Cà Mau
Trạng thái: User is offline (Vắng mặt)
Thêm vào nhóm bạn bè
Gửi tin nhắn
Hãy để tất cả con em chúng ta lên tiếng!


Xem theo danh mục
Xem theo danh mục:
     


Tìm kiếm:
     

 
Câu 9: Trình bày tính tất yếu và nội dung của CNH, HĐH nền kinh tế nước ta hiện nay.
* Tính tất yếu của CNH, HĐH
CNTB đã mất hàng trăm năm thực hiện CNH TB CN để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNTB. Ngày nay, các nước đi lên CNXH dù điểm xuất phát từ trình độ nào (TBCN hay tiền TBCN) đều phải thực hiện CNH, HĐH, để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho CNXH.
- Đối với các nước quá độ từ CNTB lên CNXH, dù đã có đại công nghiệp; có cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNTB song đó mới chỉ là tiền đề vật chất của CNXH. Muốn có cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH thì các nước này phải tiến hành CNH, HĐH XHCN trên cơ sở CM XHCN về quan hệ sản xuất và đẩy nhanh tiến bộ LLSX với những nội dung sau:
+ Tổ chức sắp xếp lại nền đại CN TBCN, phân bổ lại cho đồng đều hợp lý trong phạm vi cả nước để hình thành cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH.
+ Sử dụng và tiếp thu những thành tựu KH – CN mới, tiếp tục phát triển, HĐH KH, công nghệ của nền sx XH XHCN tạo đk cho LLSX phát triển.
+ Hình thành cơ cấu KT mới XHCN, có trình độ cao, trên cơ sở phân công LĐ XH phát triển, đảm bảo tính hiện đại, hợp lý, hiệu quả.
- Đối với các nước có KT kém phát triển chưa có CNTB, chưa có đại CN, quá độ lên CNXH từ xuất phát điểm thấp; chưa có cơ sở vật chất - kỹ thuật, nên phải xây dựng từ đầu, phải đi từ không đến có, từ gốc đến ngọn. Do vậy, CNH, HĐH là tất yếu khách quan để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH.
- Đối với nước ta một nước nông nghiệp sản xuất nhỏ quá độ lên CNXH cần thiết phải tiến hành CNH, HĐH vì những lý do sau đây:
+ Do yêu cầu khắc phục tình trạng nghèo nàn, lạc hậu sx kém phát triển, tụt hậu xa so với các nước.
+ Do yêu cầu cải tổ cơ cấu KT, hình thành cơ cấu KT mới; sx lớn, hợp lý, hiện đại, tạo ra sức sx mới, khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, để phát triển sx, nâng cao năng suất LĐ, cải thiện đời sống nhân dân.
+ Do yêu cầu đẩy mạnh phát triển LLSX để hoàn thiện qhsx mới XHCN, tạo ra sự phù hợp giữa qhsx với LLSX, trên cơ sở đó hình thành những qhsx mới về KT, CT, XH, VH, tư tưởng.
+ Do yêu cầu phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Nhanh chóng hội nhập vào KT khu vực và thế giới tạo đk tốt để thực hiện phân công, hợp tác quốc tế.
+ Do yêu cầu xây dựng củng cố quốc phòng, HĐH quân đội, xây dựng lực lượng quân sự mạnh mẽ có vũ khí, khí tài hiện đại đủ sức bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN.
* Nội dung CNH, HĐH:
- Áp dụng CM KH và công nghệ hiện đại nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH.
Ngày nay CM KH và công nghệ phát triển cao với những đặc trưng cơ bản là:
- CM KHKT gắn liền với CM công nghệ nên gọi là CM KH và CNghệ (CM công nghệ mới) với những thành tựu công nghệ hiện đại làm biến đổi sâu sắc trình độ, khả năng sx, số lượng và chất lượng sp.
- KH và CN trở thành LLSX trực tiếp bởi thành tựu của nhiều ngành KH như: KHTN, KHXH, KHKT, KHKT… đều tác động trực tiếp đến sx, đến tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, VH, GD, NT, CT tư tưởng, tg phát minh KH và ứng dụng KT đã rút ngắn, phạm vi ứng dụng lại rất rộng rãi.
- CM KH và công nghệ đang đưa loài người bước vào 1 thời đại mới, 1 nền văn minh mới tiến bộ: Văn minh tin học, có những nội dung chủ yếu là:
+ Tự động hoá: Sử dụng máy tự động, rôbốt.
+ Năng lượng mới: năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời, tia lade.
+ Vật liệu mới: composít, gốm sứ, cácbuasilíc…
+ Công nghệ sinh học: sơ đồ gen, nuôi cấy tế bào…
+ Điện tử tin học: máy vi tính, viễn tin học…
Nước ta đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, thực hiện CNH, HĐH trong đk sx nhỏ, KT công nghệ lạc hậu, chưa có đại công nghiệp phát triển. Do đó, 1 nội dung cơ bản của CNH, HĐH ở nước ta là phải tiến hành CM KH và công nghệ để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH.
Cụ thể phải thực hiện nhanh quá trình cơ khí hoá sx trang bị máy móc cho nền KT quốc dân trên cơ sở KT, công nghệ hiện đại.
Tổ chức tốt việc nghiên cứu, thu thập, phổ biến thông tin và ứng dụng những thành tựu mới nhất của KH – công nghệ vào sx, đời sống với nhiều hình thức, bước đi quy mô và trình độ thích hợp.
CNH, HĐH ở nước ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH, phát triển LLSX, củng cố hoàn thiện qhsx XHCN tạo ra sự phù hợp giữa qhsx với tính chất và trình độ LLSX. Do vậy, việc phát triển KH, công nghệ cần chú ý  1 số điểm sau:
+ Phải ứng dụng công nghệ mới tiên tiến, hiện đại kết hợp với công nghệ truyền thống.
+ Sử dụng tốt công nghệ mới, tạo ra nhiều việc làm mới, tốn ít vốn, quay vòng nhanh, hiệu quả cao, giữ được nghề truyền thống.
+ Kết hợp xây dựng phát triển cả bề rộng và bề sâu, cả xây dựng mới và cải tạo cũ, thực hành tiết kiệm.
+ Kết hợp các loại quy mô lớn, vừa và nhỏ cho thích hợp. Ưu tiên cho quy mô vừa và nhỏ; xây dựng quy mô lớn khi có đủ điều kiện. Coi trọng hiệu quả sx kinh doanh và hiệu quả KT – XH.
- Xây dựng cơ cấu KT hợp lý kết hợp với phân công LĐ XH
Cơ cấu KT của nền KT quốc dân là tổng thể hữu cơ các mqh chủ yếu về chất lượng và số lượng, tương đối ổn định của các yếu tố KT, các bộ phận hợp thành của nền KT; của LLSX và qhsx trong hệ thống tái sx XH với những đk KT – XH nhất định và trong khoảng tg nhất định. Hệ thống cơ cấu KT quốc dân bao gồm nhiều cơ cấu như: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng,  cơ cấu các tpkt, trong đó cơ cấu ngành KT là quan trọng nhất.
Thực hiện CNH, HĐH nền KT quốc dân là quá trình chuyển dịch cơ cấu KT từ lạc hậu, ít hiệu quả sang 1 cơ cấu ngày càng phù hợp với xu hướng phát triển của nền sx hiện đại do sự tác động của CM KH và công nghệ. Đó là xu hướng tỷ trọng giá trị sp công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng; tỷ trọng giá trị sp nông nghiệp ngày càng giảm.
Nước ta là 1 nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phân công LĐ còn thấp, tỷ lệ LĐ nông nghiệp cao, cơ cấu KT sx nhỏ là phổ biến, sx hh chưa phát triển. Do vậy để phát triển KT hh, xây dựng nền sx lớn XHCN, hình thành cơ cấu KT hợp lý, tất yếu phải đẩy mạnh phân công LĐ XH và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước.
Phân công LĐ XH là sự chuyên môn hoá LĐ là phân chia sắp xếp LĐ vào các ngành nghề, các lĩnh vực, các vùng KT của nền KT quốc dân nhằm tạo ra những qh KT mới giữa các ngành nghề, các lĩnh vực, các vùng KT khác nhau.
Phân bố dân cư hỗ trợ tích cực cho phân công LĐ XH. Đó là sự điều phối, di chuyển dân cư giữa các địa phương, các vùng KT cho phù hợp với mật độ dân số, phù hợp yêu cầu phát triển KT của các địa phương, các ngành, các vùng KT nhằm khai thác tốt nhất tiềm năng, thế mạnh của đất nước.
Phân công LĐ và phân bố dân cư có vai trò to lớn thúc đẩy phát triển KT – XH nói chung, phát triển công nông nghiệp, dịch vụ, phát triển VH, KHKT, hình thành cơ cấu KT hợp lý, đẩy mạnh sx hh, tăng năng suất LĐ, cải thiện đời sống ổn định CT – XH. Phân công LĐ theo hướng CNH, HĐH ở nước ta phải đảm bảo tuân thủ các quá trình có tính quy luật sau đây:
1 là, Tỷ trọng và số lượng tuyệt đối LĐ nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng và số lượng tuyệt đối LĐ công nghiệp ngày càng tăng.
2 là,tỷ trọng và số lượng tuyệt đối LĐ trong các ngành sx phi vật chất, nhất là ngành dịch vụ phải tăng dần và tốc độ tăng phải nhanh hơn các ngành sx vật chất khác.
3 là, tỷ trọng LĐ trí tuệ ngày càng tăng và chiếm ưu thế so với LĐ giản đơn trong tổng số LĐ XH.
Trong đk nước ta hiện nay, phương hướng phân công LĐ XH phải thực hiện trên tất cả các địa bàn 1 cách có tổ chức, có kế hoạch, quy hoạch, gắn bó, hỗ trợ nhau. Phân công LĐ tại chỗ theo địa phương làng, xã, quận, huyện. Phân công đi nơi khác trong phạm vi quốc gia bao gồm cả phân công LĐ và phân bố dân cư cho các địa phương và các vùng KT mới. Phân công LĐ quốc tế, thực hiện đưa người LĐ đi làm việc ở các nước trên tất cả các lĩnh vực hđ như nghiên cứu KHKT, GD ĐT, LĐ SX…
Phân công LĐ XH có ảnh hưởng trực tiếp tới việc hình thành cơ cấu KT hợp lý. Sự hình thành cơ cấu KT hợp lý là yêu cầu cần thiết khách quan của nước ta trong quá trình CNH, HĐH nền KT quốc dân. Xây dựng cơ cấu KT hợp lý tối ưu, đòi hỏi phải đảm bảo những yêu cầu sau đây:
- Tạo ra những ngành sx mới, những qh KT mới, tạo nhiều việc làm mới phù hợp với quy luật khách quan, phản ánh được đúng xu hướng vận động phát triển KT – XH của đất nước.
- Phải phù hợp với thị trường trong nước và thị trường quốc tế, phù hợp với sự tiến bộ KH và công nghệ hiện đại đang phát triển.
- Phải tốn ít vốn, hiệu quả cao cho phép khai thác tối đa tiềm năng, thế mạnh của đất nước, của các ngành, các tpkt, đẩy mạnh phát triển cả bề rộng và bề sâu.
- Hđ quay vòng đồng vốn nhanh, lãi suất cao thực hiện sự phân công hợp tác quốc tế theo hướng quốc tế hoá sx và đời sống ngày càng phát triển của cơ cấu KT mở.
- Phải tạo được đà cho sự phát triển tiếp theo của toàn bộ nền KT quốc dân.
Trên tinh thần đó, Văn kiện Đại hội VIII đã khẳng định: nước ta đã chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH với 6 quan điểm và 5 nhiệm vụ của CNH, HĐH. Đại hội IX của Đảng đã cụ thể hoá và bổ sung 1 số điểm mới là:
+ Phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện KT nông thôn cùng với xây dựng nông thôn mới, nhằm khai thác mọi tiềm năng về LĐ, đất đai và các nguồn tài nguyên khác để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
+ Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu trên cơ sở phát huy khả năng của các tpkt với nhiều hình thức, quy mô, công nghệ thích hợp.
+ Phát triển có chọn lọc 1 số cơ sở công nghiệp nặng trong những ngành trọng yếu mà nhu cầu đòi hỏi cấp bách và có đk về vốn, công nghệ, thị trường, đặc biệt là công nghệ cao như: CNTT, công nghệ viễn thông, công nghệ điện tử.
+ Phát triển KT dịch vụ: mở rộng thương nghiệp, du lịch và các dịch vụ khác ở thành thị, nông thôn, đẩy mạnh các hđ KT đối ngoại.
+ Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng: cải tạo, mở rộng, nâng cấp xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng KT ở những khâu yếu kém nhất đang cản trở sự phát triển…
- CNH, HĐH đến năm 2015:
+ Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả phát triển kinh tế bền vững.
+ Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại tiếp tục tạo nền tảng cho 1 nước công nghiệp và nâng cao khả năng độc lập-tự chủ của nền kinh tế.
+ Phát triển nông lâm ngư nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn giải quyết tốt vấn đề nông dân và nông thôn.
+ Tập trung xây dựng tạo bước đột phá về kết cấu hạ tầng kinh tế, đáp ứng yêu cầu của đất nước.
+ Phát triển kinh tế xã hội hài hoà giữa các vùng đô thị và nông thôn.
* Các giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH:
- Tạo nguồn vốn tích luỹ cho CNH, HĐH:
Tạo nguồn vốn tích luỹ là vấn đề quan trọng hàng đầu cho quá trình CNH, HĐH. CNH, HĐH là xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, phát triển LLSX, trang bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại cho nền KT quốc dân. Muốn vậy, phải có nhiều vốn để xây dựng các ngành công nghiệp và mua sắm máy móc thiết bị, khoa học, công nghệ hiện đại. Không có vốn thì không thể nói đến CNH, HĐH. CNTB đã tạo ra nguồn vốn bằng tích luỹ nguyên thuỷ và TB hóa giá trị thặng dư. Đối với nước ta hiện nay cần phải tạo ra nguồn vốn bằng 2 cách sau đây:
+ Cách thứ nhất là từ trong nước, từ nội bộ nền KT quốc dân. Đây là nguồn vốn chủ yếu và lâu dài do kết quả phát triển sx và tăng năng suất lao động mà có. Do vậy chúng ta phải không ngừng áp dụng kỹ thuật, công nghệ mới, tổ chức hợp lý hoá sx, nâng cao năng suất lao động, phát triển ngành nghề, sử dụng triệt để, hợp lý, có hiệu quả lực lượng lao động, để không ngừng đẩy mạnh phát triển sx.
+ Cách thứ hai là từ ngoài nước: Vay vốn các nước, các tổ chức KT dưới nhiều hình thức, đầu tư trực tiếp, gián tiếp, viện trợ, vay với thời gian và lãi suất khác nhau. Đây là nguồn vốn rất quan trọng để tiếp thu khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại, khai thác các nguồn vốn đã rất khó khăn, song khó khăn hơn là vấn đề quản lý và sử dụng tốt, có hiệu quả nguồn vốn đó để khai thác tối đa khả năng nền KT đất nước phục vụ quá trình CNH, HĐH.
- Đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH:
+ CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần KT. Do vậy, đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công nhân đầy đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH. Muốn vậy, cần phải có kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng tạo ra cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực, trình độ:
. Cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ.
. Kỹ sư thực hành
. Công nhân lành nghề
. Các nhà quản lý kinh doanh giỏi…
Đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng, phải bố trí và sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao động sáng tạo của họ để tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả KT cao, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sx.
  Trong xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày nay, khoa học, công nghệ ngày càng đạt được những thành tựu rất cao. Do vậy để tránh tụt hậu xa so với các nước, chúng ta cần đẩy mạnh CNH, HĐH trên cơ sở kết hợp đẩy mạnh nghiên cứu khoa học – công nghệ, cải tiến kỹ thuật với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại, tiên tiến vào sx kinh doanh. Cụ thể là:
+ Nghiên cứu khoa học cơ bản phải đi vào các lĩnh vực mũi nhọn.
+ Nghiên cứu khoa học ứng dụng và cải tiến kỹ thuật phải phù hợp với tình hình nước ta và thế giới, phải kết hợp hài hoà các trình độ và quy mô, phấn đấu đuổi kịp trình độ thế giới.
Những kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ phải là cơ sở cho những quyết định trong công tác quản lý và xây dựng đất nước.
- Mở rộng quan hệ KT quốc tế, phát triển thị trường trong nước và nước ngoài:
Nước ta thực hiện CNH, HĐH trong điều kiện phát triển mở rộng quan hệ quốc tế, phát triển hh thị trường nên việc mở rộng quan hệ quốc tế phát triển thị trường trong nước và ngoài nước là vấn đề khách quan và hết sức cần thiết nhằm tranh thủ:
+ Vốn ngoại tệ.
+ Khoa học và công nghệ hiện đại.
+ Mở rộng phân công lao động XH
+ Phát triển hợp tác sx kinh doanh.
+ Phát triển thị trường tiêu thụ hh… để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Việc mở rộng quan hệ KT quốc tế, phát triển thị trường trong nước và nước ngoài phải chú ý cả bề rộng và bề sâu, phải đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ với các nước, các khu vực, các tổ chức KT, tài chính, thực hiện dưới nhiều hình thức, nhiều phương pháp phong phú và hiệu quả./.
z

 

> Trả lời nhanh
Bình luận của bạn sẽ được đăng sau khi chủ blog kiểm duyệt và chấp nhận
Nhập vào tên của bạn:
Nhập mã số xác nhận (bắt buộc):
» Hiển thị cửa sổ mặt cười       » Download bộ gõ tiếng Việt Unikey
 Bạn có muốn chuyển các ký hiệu như :) :( :D ...thành mặt cười trong bài viết này?
 Bạn có muốn chèn thêm chữ ký vào bài viết này ?
 


 
Tin nhanh

CHBTNSB
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
26
27
28
29
30
31

Lượt xem thứ:





Mạng xã hội của người Việt Nam.
VnVista I-Shine © 2005 - 2014 VnVista.com